====

28 lượt xem

Gốm Bát Tràng và tất cả những điều có thể bạn chưa biết

Gốm Bát Tràng là thương hiệu không còn xa lạ đối với người Việt Nam. Sản phẩm gốm Bát Tràng đã trở thành món quà tặng có ý nghĩa và được ưa chuộng cả trong và ngoài nước. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu chi tiết hơn về loại sản phẩm này…

Gốm Bát Tràng là gì?

Gốm Bát Tràng là tên gọi chung cho các loại đồ gốm được sản xuất tại làng Bát Tràng. Đây là một làng thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Theo nghĩa Hán Việt thì “Bát” là bát ăn của nhà sư, “Tràng” đọc là Trường nghĩa là “cái sân lớn”, là mảnh đất riêng dành cho chuyên môn. Chữ “Bát” bên trái là bộ “Kim” ví với sự giàu có, “bản” có nghĩa là cội nguồn, nguồn gốc. Dùng chữ “Bát” như vậy để khuyên răn con cháu “có nghề có nghiệp cũng không được quên gốc”

Khái quát về gốm Bát Tràng

Vị trí địa lý

Xã Bát Tràng là tên gọi trước năm 1945 của làng Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Khi nhà Lý rời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, người dân thôn Bát Tràng di cư từ làng Bồ Bát theo vua Lý Công Uẩn ra Thăng Long. Khi người dân đên vùng đất bồi trên bờ sông Hồng họ đã lập phường làm nghề gốm. Lúc đầu thôn Bát Tràng được gọi là Bạch Thổ Phường. Tại đây, người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề làm gốm sứ, buôn bán và làm quan.

Thời nhà Hậu Lê, xã Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Sang thời nhà Nguyễn, trấn Kinh Bắc được đổi thành trấn Bắc Ninh, năm 1931 đổi là tỉnh Bắc Ninh. Lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An. Năm 1862 chia về phủ Thuận Thành và năm 1912 chia về phủ Từ Sơn.

Năm 1949 huyện Gia Lâm thuộc về tỉnh Hưng Yên. Từ năm 1961 đến nay huyện Gia Lâm thuộc ngoại thành Hà Nội. Năm 1948 xã Bát Tràng nhập với xã Giang Cao và Kim Lan thành xã Quang Minh. Từ năm 1964, xã Bát Tràng được thành lập gồm hai thôn là Bát Tràng và Giang Cao.

Lịch sử hình thành 

Thế kỷ XV – XVI

  • Sản phẩm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi nhờ chính sách cởi mở đối với công thương nghiệp của nhà Mạc.
  • Gốm Bát Tràng thời nhà Mạc có nhiều sản phẩm có minh văn ghi rõ năm chế tác, tên người đặt hàng và sản xuất.
  • Người đặt hàng gốm Bát Tràng thời kỳ nhà Mạc có cả quý tộc và một số quan chức cao cấp. VD: Công chúa Phúc Tràng, phò mã Ngạn Quận Công, Đà quốc công Mạc Ngọc Liễn…
  • Người đặt hàng gốm Bát Tràng trải ra trên một không gian rộng lớn bao gồm nhiều phủ huyện vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

Thế kỷ XVI – XVII

  • Sau những phát kiến địa lý cuối thế kỷ XV, nhiều nước Tây Âu tràn sang phương Đông. Hoạt động mậu dịch hàng hải khu vực Đông Nam Á càng trở nên sôi động.
  • Nhà Minh (TQ) chủ trương cấm tư nhân buôn bán với nước ngoài. Do đó, việc xuất khẩu gốm sứ nổi tiếng của Trung Quốc bị hạn chế. Điều đó, tạo cơ hội cho gốm sứ Bát Tràng được mở rộng thị trường ở vùng Đông Nam Á. Về sau nhà Minh bãi bỏ chính sách “Bế quan tỏa cảng” nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu và mặt hàng quan trọng sang Nhật Bản. Đó là điều kiện để Việt Nam có mối quan hệ buôn bán thuận lợi với Nhật Bản. Nhiều đồ gốm sứ Bát Tràng được nhập cảng vào Nhật Bản.
  • Đến triều đại nhà Thanh (TQ) đã tái lập chính sách cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài. Trong thời gian đó một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong đó có gốm Bát Tràng không bị hàng của Trung Quốc cạnh tranh. Do đó, gốm Bát Tràng có điều kiện phát triển mạnh hơn.
  • Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất gốm xuất khẩu. Trong đó, ở phía Bắc có hai trung tâm quan trọng và nổi tiếng đó là Bát Tràng và Chu Đậu – Mỹ Xá.
  • Các công ty phương Tây đã mua nhiều đồ gốm của Việt Nam bán sang thị trường Đông Nam Á và Nhật Bản.

Thế kỷ XVII – XVII

  • Sau khi Đài Loan được giải phóng và triều Thanh bãi bỏ chính sách cấm vượt biển buôn bán với nước ngoài thì việc xuất khẩu và buôn bán đồ gốm của Việt Nam bị giảm sút nhanh chóng.
  • Gốm sứ chất lượng cao của Trung Quốc tràn vào thị trường Đông Nam Á. Đồ gốm Việt Nam thời điểm đó đã không có sức để cạnh tranh.

Thế kỷ XVIII – XIX

  • Một số nước phương Tây đi vào cuộc cách mạng công nghiệp. Kèm với đó là chính sách hạn chế ngoại thương của chính quyền Trịnh, Nguyễn làm cho quan hệ mậu dịch đối ngoại của Việt Nam sa sút. Việc xuất khẩu đồ gốm do đó cũng bị suy giảm mạnh.
  • Một số làng nghề gốm bị gián đoạn sản xuất (gốm Chu Đậu – Mỹ Xá). Gốm Bát Tràng tuy có bị ảnh hưởng nhưng vẫn giữ được sức sống bền bỉ. Bởi lẽ, gốm Bát Tràng có một thị trường tiêu thụ rộng rãi trong nước với đồ gia dụng, đồ thờ, trang trí và gạch xây rất cần thiết cho mọi tầng lớp từ quý tộc đến bình dân. Gốm Bát Tràng xuất khẩu có xu hướng giảm sút nhưng làng gốm Bát Tràng vẫn là một trung tâm sản xuất gốm truyền thống có tiếng trong nước.

Thế kỷ XIX đến nay

  • Thời Pháp Thuộc, các lò gốm Bát Tràng tuy bị một số xí nghiệp gốm sứ và hàng nhập ngoại cạnh tranh nhưng vẫn duy trì hoạt động bình thường.
  • Sau chiến tranh Đông Dương, con địa chủ của thôn Giang Cao góp vốn thành lập công ty gốm Trường Thịnh. Đây được coi là nền tảng khởi đầu cho xí nghiệp sứ Bát Tràng.
  • Năm 1958 Nhà nước làm công tư hợp doanh, chuyển đổi công ty gốm Trường Thịnh thành xí nghiệp sứ Bát Tràng. Việc cơ sở vật chất đầy đủ, nhân công Bát Tràng được thử nghiệm, thực hành và sáng tạo cùng với sự cần cù, chịu khó. Đây là thế hệ nhân công có tay nghề gốm vững chãi. Những nghệ nhân nổi tiếng như của Bát Tràng như Đào Văn Can, Nguyễn Văn Khiếu, Lê Văn Vấn, Lê Văn Cam,Trần Hợp…đã đào tạo được nhiều thợ gốm trẻ cung cấp cho các lò gốm mới mở ở các tỉnh.
  • Sau đổi mới 1986, làng gốm Bát Tràng có sự chuyển biến mới theo hướng kinh tế thị trường. Các hợp tác xã lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty cổ phần. Xã Bát Tràng nay đã trở thành một trung tâm gốm lớn.
  • Hiện nay, gốm Bát Tràng phong phú và đa dạng hơn. Ngoài các mặt hàng truyền thống còn có nhiều sản phẩm mới đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng trong cũng như ngoài nước (Châu Á, Châu Âu).
Gốm Bát Tràng
Láng gốm Bát Tràng

Đặc điểm nổi bật của gốm Bát Tràng

Loại hình

Hầu hết gốm Bát Tràng được sản xuất thủ công. Nó chứng minh cho sự sáng tạo, tỉ mỉ và đôi bàn tay khéo léo của người thợ làng nghề Bát Tràng. Đồ gốm Bát Tràng có nét  riêng là cốt đầy, chắc, nặng và lớp men trắng thường ngả màu ngà, đục. Bởi vì, do tính chất của nguồn nguyên liệu tạo cốt gốm cộng với việc tạo dáng đều bằng tay trên bàn xoay. Thêm vào đó là việc sử dụng các loại men khai thác trong nước.

Dựa vào ý nghĩa sử dụng, gốm Bát Tràng được phân thành các loại hình sau:

  • Gốm gia dụng: Gồm các loại đĩa, chậu hoa, âu, thạp, ang, khay trà, chén, bát, ấm, bình, lọ, chóe, hũ…
  • Đồ gốm được dùng làm đồ thờ cúng: Các loại chân đèn, chân nến, lư hương, đài thờ, đỉnh, mâm gốm, kiếm. Trong đó, chân đèn, lư hương và đỉnh là những vật phẩm có giá trị đối với nhà sưu tầm đương đại.
  • Đồ gốm trang trí: Bao gồm mô hìn nhà, long đình và các loại tượng. Tượng bao gồm tượng nghê, ngựa, Di Lặc, kim cương, hổ, voi, ba đầu, khỉ mình rắn và rồng.

Trang trí

Thế kỷ XIV-XV

  • Hình thức trang trí trên gốm Bát Tràng bao gồm kiểu khắc chìm, tô men nâu. Kiểu này dựa theo kỹ thuật gốm hoa nâu thời Lý, Trần. Nó được kết hợp với chạm nổi và vẽ men lam.
  • Đây là khoảng thời gian đánh dấu sự ra đời của dòng gốm hoa lam. Đồng thời, là sự xuất hiện đồ gốm hoa nâu vẽ theo gốm hoa lam.
  • Đề tài trang trí còn bị giới hạn trong các đồ án hoa lá.

Thế kỷ XVI

  • Xuất hiện những chân đèn, lư hương có kích thước lớn hơn. Kỹ thuật trang trí chạm nổi kết hợp vẽ men lam đạt đến trình độ tinh xảo.
  • Đề tài trang trí phổ biến giai đoạn này gồm các loại rồng, phượng, xen kẽ cụm mây, ngựa có cánh, hoạt cảnh người, cánh sen đứng, hoa dây, lá đề, phong cảnh sơn thủy…
  • Trang trí vẽ men lam còn giữ được nhịp độ phát triển. Nhiều loại hoa văn hình học và hoa lá còn thấy gần gũi với đồ gốm hoa lam xuất hiện cùng thời ở Chu Đậu (Hải Dương).

Thế kỷ XVII

  • Kỹ thuật chạm khắc, đắp nổi trên gốm Bát Tràng càng cầu kỳ, tinh tế, gần gũi với chạm đá và gỗ.
  • Đề tài trang trí thời kỳ này tiếp nối thế kỷ XVI , đồng thời, xuất hiện các đề tài trang trí mới: bộ tứ linh, hổ phù, nghê, hạc…
  • Những đề tài chạm nổi để mộc điển hình khác như bông cúc hình ôvan, bông hoa 8 cánh, bông cúc tròn, cánh hoa hình lá đề, cánh sen vuông, các chữ Vạn – Thọ…
  • Việc sử dụng men lam kém dần tuy đề tài trang trí vẽ tương đồng với chạm nổi.
  • Thời kỳ này xuất hiện các đồ gốm men rạn với sự kết hợp trang trí nổi bật như Rồng, Tứ linh, hoa lá…
  • Thế kỷ XVII xuất hiện loại gốm nhiều màu. Trong đó, nổi trội nhất là màu ngọc với các đề tài trang trí độc đáo như hình người, hoa sen, chim, nghê…

Thế kỷ XVIII-XIX

  • Trang trí chạm nổi gần như chiếm chủ đạo. Loại trang trí này thay thế hẳn trang trí vẽ men lam trên gốm Bát Tràng.
  • Các kỹ thuật đúc nổi, dán ghép, chạm khắc nổi đã thích ứng với việc sử dụng men đơn sắc (men trắng xám và men rạn).
  • Đề tài trang trí ngoài Rồng, nghê, bộ Tứ linh còn có thêm các cây tượng trưng cho bốn mùa. Ngoài đề tài sen, trúc, chim, hoa lá còn xuất hiện các loại văn bát quái, lá vật…
  • Hoa văn đường viền phát triển mạnh các nền gấm, sóng nước, hồi văn, cánh sen nhọn…
  • Sang thế kỷ XIX, gốm hoa lam Bát Tràng phục hồi và phát triển. Phong cách kết hợp sử dụng nhiều loại men vào trang trí. Bên cạnh các đề tài đã có từ trước, giai đoạn này còn xuất hiện thêm các đề tài du nhập từ nước ngoài. Đó là các điển tích của Trung Quốc như “Ngư ông đắc lợi”, “Tô Vũ chăn dê”, “Bát Tiên quá hải”, “Ngư ông kéo lưới”…
Gốm Bát Tràng
Sản phẩm gốm Bát Tràng

Các dòng men

Men lam

  • Đây là loại men được sử dụng sớm nhất ở Bát Tràng.
  • Men lam là men gốm được cộng thêm gốc màu là oxit coban.
  • Thợ Bát Tràng sử dụng men lam với kỹ thuật dùng bút lông vẽ trên đồ gốm.
  • Men lam không để trần như men nâu mà bao giờ cũng được phủ thêm lớp me màu trắng bóng. Có độ thủy tinh hóa cao sau khi nung.
  • Đây là loại men có sắc độ từ xanh chì đến xanh sẫm.
  • Ngay từ thời kỳ đầu loại men này đã có những nét riêng về dáng và họa tiết trang trí.
  • Gốm hoa lam Bát Tràng thế kỷ XVI có sắc xanh đen. Men lam dùng để vẽ mây kết hợp với trang trí hình rồng nổi để mộc, vẽ cánh sen, các băng đường diềm các cặp chân đèn.
  • Thế kỷ XVII là thời kỳ men lam phát triển mạnh tại Bát Tràng.
  • Thế kỷ XVII, trong đỉnh cao men rạn, Bát Tràng xuất hiện lối kết hợp trang trí nổi với vẽ lam. Men lam được khôi phục trở lại trên đồ gốm Bát Tràng.
  • Thế kỷ XIX, men lam được vẽ trang trí trên lư, chóe, bình, lọ, bát hương…Nét biểu hiện đặc trưng của men lam Bát Tràng là sắc màu (trầm) và lối vẽ.

Men nâu

  • Men nâu là một trong những loại men dễ sử dụng đầu tiên ở Bát Tràng.
  • Sắc độ màu của men nâu phụ thuộc nhiều vào xương gốm.
  • Men nâu có sắc độ đỏ nâu hay gọi là màu bã trầu. Men này không bóng, trên mặt men thường có vết sần.
  • Men nâu còn được dùng phủ toàn bộ rồi cạo bỏ phần men tạo thành đồ án hoa văn mộc. Thế kỷ XIV, đã biết hạn chế sự ảnh hưởng của màu men nâu do mộc bằng cách vẽ men nâu trên lớp men trắng ngà. Việc làm này giúp chuyển men nâu đỏ sang vàng nâu.
  • Thế kỷ XVI, XVII, men nâu được dùng xen lẫn với men ngọc, men ngà để tạo nên các sắc độ khác nhau.  Men nâu giữ vị trí các đường chỉ chia băng, tô lên hoa sen hoặc các hình Rồng.
  • Sang thế kỷ XVIII, men nâu tiếp tục được sử dụng nhiều theo cách thức cổ truyền. Một số nghệ nhân tìm tòi, sáng tạo và làm phong phú men này.
  • Thế kỷ XIX, men nâu được dùng làm nền cho các trang trí men trắng và xanh. Men nâu dùng để tô trên những thân cây Tùng, cây Liễu hoặc điểm thêm vào các dải mây, tà áo của Bát Tiên. Đây là thời điểm đánh dấu men nâu đã chuyển sắc thành một loại men bóng. Loại men này được sử dụng phổ biến ở Bát Tràng cho tới ngày nay.

Men trắng

  • Men trắng trong nhiều trường hợp ngả màu vàng ngà, bóng khi nhiệt độ nung cao. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp có màu trắng sữa, trắng xám hay đục.
  • Loại men này cũng được sử dụng để phủ lên trang trí men lam hay nâu. Nhưng trong rất nhiều đồ gốm Bát Tràng chỉ thấy dùng men trắng ngà.
  • Gốm Bát Tràng thế kỷ XVII đã đạt đỉnh cao trong kỹ thuật trang trí nổi với các thủ pháp chạm trổ, dán ghép. Men trắng ngà được sử dụng trên các lư hương để phủ trên các rìa, ước và đường viền ngoài. Do men trắng mỏng, xương gốm được lọc luyện kỹ và độ nung cao nên chất lượng tốt. Một số sản phẩm men trắng ngà phủ lên trang trí nổi dày vẫn có vết rạn men.
  • Thế kỷ XVIII, men trắng ngà còn được sử dụng trên một số loại hình khác nhau cùng trang trí nổi để mộc.
  • Thế kỷ XIX, gốm Bát Tràng chưa mất hẳn kiểu trang trí nổi để mộc. Men ngà còn được sử dụng trên các loại bình, lọ, lư hương…

Men ngọc

  • Từ thế kỷ XIV đến XIX, cùng với men trắng ngà và nâu, men ngọc được sử dụng khá phổ biến. Ba loại men này tạo ra loại “Tam thái” riêng của gốm Bát Tràng.
  • Trên chân đèn men ngọc được tô lên những bông sen nổi, băng hoa tròn của dải cánh sen, các bông hoa tròn hình bánh xe, hình Rồng…
  • Men ngọc còn được dùng để vẽ mây, tô lên nhiều góc mảng diềm, đế và các cột dọc của long đình. Men ngọc sắc nhạt trên chân đèn, đế nghê. Trên lư hương tròn men ngọc được điểm vào bốn hình chữ S nổi giữa thân và chân, một số chỗ trên bụng.
  • Loại men này dù ở các sắc độ khác nhau nhưng sự xuất hiện của nó mang ý nghĩa rất lớn. Nó chỉ xuất hiện trên đồ gốm Bát Tràng vào thế kỷ XVI, XVII. Đây được coi là một dữ kiện để đoán định niên đại khá chắc chắn cho các đồ gốm Bát Tràng trên nhiều loại hình khách nhau.

Men rạn

  • Đây là loại men độc đáo được tạo ra do sự chênh lệch về độ co giữa xương gốm và men.
  • Men rạn có sắc ngà xám, các vết rạn chạy dọc và ngang chia ra thành nhiều hình tam giác, tứ giác.
  • Thế kỷ XVIII, Bát Tràng còn sản xuất nhiều đồ gốm men rạn có ghi niên đại. Đỉnh gốm men rạn chế tạo năm 1736 có màu trắng xám. Đỉnh gốm men rạn khác có nắp, thân và đế lại dùng men rạn có màu vàng ngà.
  • Men rạn còn được sử dụng trên các loại hình như chân nến trúc hóa long, ấm có nắp, đài thờ các nắp, cặp tượng nghê.
  • Thế kỷ XIX, các đồ gốm dòng men rạn còn tiếp tục phát triển. Bên cạnh đó, là việc kết hợp men rạn với trang trí vẽ lam. Trên các đồ gốm, thợ Bát Tràng còn đắp nổi, khắc chìm hoặc không trang trí, men rạn có màu trắng xám.

Minh Văn

  • Minh Văn thể hiện bằng khắc chìm hoặc viết bằng men lam dưới men trắng.
  • Một số Minh Văn cho biết rõ năm sản xuất, họ tên quê quán tác giả chế tác, có khi cả chức tước của người đặt hàng.
  • Có rất nhiều sản phẩm ghi Minh Văn. Những sản phẩm này có một số đang được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, một số khác được trưng bày tại các bảo tàng nước ngoài. Một số hiện được sở hữu bởi các nhà sưu tầm đồ cổ, số khác lưu lạc trong dân gian và chìm sâu trong lòng đất.
Gốm Bát Tràng
Gốm Bát Tràng – Chóe men rạn đắp nổi Tứ linh

Đề tài Rồng trong trang trí đồ gốm Bát Tràng qua các thời kỳ

Rồng là chủ đề được trang trí trên nhiều loại hình, đặc biệt là trên chân đèn và lư hương. Đối với các nhà sưu tầm đồ cổ và các nhà nghiên cứu mỹ thuật, chủ đề Rồng được thể hiện qua các thời kỳ nhận được sự quan tâm đặc biệt hơn cả. Bởi lẽ, một phần lớn do chủ đề này có sự thay đổi đáng kể.

Thế kỷ XVI-XVII

  • Thế kỷ XVI, Rồng được đắp nổi hoặc để mộc như trên đồ gốm thời Nguyên – Trung Quốc. Nó cũng có thể được vẽ men lam. Rồng có đôi cánh mọc ra từ chân trước, cong như cánh bướm. Rồng và Phượng mở ra cấu trúc trang trí Rồng bay Phượng múa.
  • Đầu thế kỷ XVII, Rồng vẫn giữ được nét tương đồng so với Rồng ở thế kỷ XVI. Sau đó, được cách điệu với bốn khúc không đều nhau, đó là một kiểu Rồng mới khác lạ và độc đáo. Rồng bố cục theo chiều ngang, dáng ngắn, thân uốn hình cánh cung và tay trước nắm râu. Rồng chạm nổi trong hình khánh hay thấu kính có thân nhỏ và đều.
  • Nửa sau thế kỷ XVII lại xuất hiện Rồng có hình dáng gần gũi với Rồng điêu khắc trên gỗ.  Đuôi rồng từ bên trái trườn qua bên phải, đầu quay vào giữa. Mặt Rồng tả chính diện, tay trước nắm râu. Xung quanh Rồng có nhiều dải mây nổi vẽ men lam. Một kiểu Rồng nữa được thể hiện trên lư hương, đế nghê, mô hình là Rồng nổi, đuôi và đầu vút lên trên, hai chân trước chống và được bố cục gọn gàng trong hình chữ nhật.

Thế kỷ XVII-XVIII

  • Thế kỷ XVIII, Rồng được tạo hình với thân dài, đắp nổi theo dạng phù điêu. Đầu Rồng nghiêng, hai mắt lồi, sừng và râu cong, bờm gáy dày, vây cá nhọn, vảy rắn, xung quanh Rồng có những dải mây nổi hình ba ngọn lửa. Sau đó, Rồng ổ xuất hiện gồm Rồng mẹ và sáu Rồng con, xen kẽ các dải mây hình khánh.
  • Rồng được thể hiện trên bình con voi, lư hương hoặc trên bao kiếm thờ…
  • Với Rồng đắp nổi chỉ thể hiện đầu Rồng chính diện, hai chân trước dang rộng, lỗ mũi hẹp, mắt lồi, miệng ngậm vòng tròn hay chữ Thọ kiểu triện còn được thể hiện trên những chiếc đỉnh.
  • Thế kỷ XIX, Rồng được thể hiện với phong cách tượng tròn với thân ngắn, mình tròn. Đầu có miệng rộng, mũi cao, vây cá, vẩy tròn và được trang trí theo kiểu đắp nổi hay vẽ men lam trên đỉnh gốm. Hay cũng có thể trên hình men rạn vẽ nhiều màu. Ngoài ra, còn có đầu Rồng với mặt nhìn chính diện, hai chân xòe ngang, miệng ngậm vòng…
Gốm Bát Tràng
Hình tượng Rồng trong trang trí đồ gốm Bát Tràng

Quy trình sản xuất gốm Bát Tràng

1. Tạo cốt gốm

Chọn đất

  • Những trung tâm sản xuất gốm thời cổ thường sản xuất trên cơ sở khai thác nguồn đất sét tại chỗ. Làng gốm Bát Tràng cũng vậy, khu vực làng Bát Tràng là nơi có mỏ đất sét trắng. Thế kỷ XVIII, nguồn đất sét trắng tại chỗ đã cạn kiệt nên người dân Bát Tràng buộc phải đi tìm nguồn đất mới. Người dân Bát Tràng vẫn định cư tại nhưng nơi có giao thông thuận tiện, sau đó, họ thông qua các dòng sông bến cảng, dùng thuyền tỏa ra các nơi khai thác nguồn đất mới. Từ Bát Tràng ngược lên vùng Sơn Tây, Phúc Yên, đến Đông Triều…khai thác đất sét trắng.
  • Đất sét ở Trúc Thôn là loại đất sét được thợ gốm Bát Tràng ưa dùng. Đây là loại có độ dẻo cao, khó tan trong nước, hạt mịn, màu trắng xám, độ chịu lửa cao. Tuy nhiên, loại đất sét này cũng có một số hạn chế như oxit sắt khá cao, độ ngót khi sấy khô lớn, màu không được trắng.

Xử lý, pha chế đất

  • Tùy theo yêu cầu của từng loại gốm mà có những cách pha chế đất khác nhau. Điều đó giúp đảm bảo có được những sản phẩm phù hợp nhất.
  • Ở Bát Tràng phương pháp xử lý đất truyền thống là thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa. Hệ thống này gồm bốn bể có độ cao khác nhau.
  • Bể thứ nhất ở vị trí cao hơn cả là “bể đánh”. Bể này được dùng để ngâm đất sét thô và nước. Thời gian ngâm khoảng 3-4 tháng. Đất sét dưới tác động của nước sẽ bị phá vỡ kết cấu hạt nguyên thủy của nó và bắt đầu quá trình phân rã.
  • Bể thứ hai là “bể lắng” hay “bể lọc”. Khi đất chín (cách gọi dân gian) sẽ đánh đất thật đều và tơi để các hạt đất thực sự hòa tan trong nước tạo thành hỗn hợp lỏng. Sau đó, hỗn hợp lỏng này được tháo xuống bể thứ hai. Tại đây, đất sét bắt đầu lắng xuống, một số tạp chất nổi lên. Người thợ sẽ tiến hành loại bỏ những tạp chất nổi lên đó.
  • Bể thứ ba gọi là “bể phơi”. Người thợ sẽ múc hồ loãng từ “bể lắng” sang bể phơi trong khoảng 3 ngày.
  • Bể thứ tư là “bể ủ”. Đất được chuyển từ bể phơi sang “bể ủ”. Tại bể ủ, ôxyt sắt và các tạp chất khác bị khử bằng phương pháp lên men. Thời gian ủ càng lâu càng tốt.
  • Trong quá trình xử lý đất, tùy theo từng loại gốm mà thợ Bát Tràng có thể pha thêm cao lanh với mức độ ít, nhiều khác nhau.

Tạo dáng

  • Phương pháp tạo dáng cổ truyền của thợ gốm Bát Tràng là làm bằng tay trên bàn xoay.
  • Trong khâu tạo dáng người thợ sử dụng lối “vuốt tay, be chạch” trên bàn xoay.
  • Người thợ sẽ ngồi trên ghế cao hơn mặt bàn rồi dùng chân quay bàn xoay và tay vuốt đất tạo dáng. Đất trước khi đưa vào bàn xoay được vò cho thật nhuyễn, cuốn thành thoi rồi ném để thu ngắn lại. Sau đó, nó được đặt vào giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính chặt rồi lại nén và kéo cho đất nhuyễn dẻo. Sau khi kéo đất bằng tay người thợ sẽ dùng sành dàn để định hình. Sản phẩm “xén lợi” và “bắt lợi” xong thì được cắt chân đưa ra đặt vào “bửng”.
  • “Be chạch” cũng là hình thức vuốt sản phẩm trên bàn xoay nhẹ đà và chủ yếu do đàn ông đảm nhiệm.
  • Thợ “đắp nặn” gốm là thợ có trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao. Có khi họ đắp nặn một sản phẩm hoàn chỉnh, cũng có khi đắp nặn từng bộ phận riêng rẽ. Sau đó, họ tiến hành chắp ghép các bộ phận lại với nhau thành sản phẩm hoàn chỉnh.
  • Các bước tạo dáng theo khuôn in: Đặt khuôn vào giữa bàn xoay => Ghim chặt lại => Láng lòng khuôn => Ném mạnh đất giữa lòng khuôn cho bám chắc chân => Vét đất lên lợi vành => Quay bàn xoay và kéo cán tới mức cần thiết để tạo sản phẩm.
  • Ngày nay, thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến kỹ thuật “đúc” hiện vật . Ngoài ra người ta còn dùng phương pháp đổ rót: đổ “hồ thừa” hay “hồ đầy” để tạo dáng sản phẩm.

Phơi sấy và sửa hàng mộc

  • Tiến hành phơi sản phẩm mộc. Cần đảm bảo sản phẩm khô, không bị nứt nẻ và bị thay đổi hình dáng.
  • Ngày xưa, biện pháp tối ưu mà người Bát Tràng sử dụng là hong khô trên giá và để nơi thoáng mát. Ngày nay, nhiều gia đình sử dụng phương pháp sấy trong là sấy và tăng nhiệt độ từ từ để nước bốc hơi dần.
  • Sản phẩm mộc đã định hình cần đem “ủ vóc” và sửa lại cho hoàn chỉnh. Người thợ đặt sản phẩm trên bàn xoay, vừa xoay bàn xoay vừa đẩy mạnh vào chân vóc cho cân. Dùng dùi vỗ nhẹ vào chân vóc cho đất ở chân vóc chặt và sản phẩm tròn trở lại. Người thợ gốm tiến hành các động tác cắt, gọt chỗ thừa, bồi đắp chỗ khuyết, chắp các bộ phận của sản phẩm, khoan lỗ, tỉa đường nét hoa văn và thuật nước cho mịn mặt sản phẩm.
  • Theo yêu cầu trang trí có thể đắp thêm đất vào một vài vùng nào đó. Sau đó, sẽ cắt tỉa để tạo hình (đắp phù điêu) hoặc khắc sâu các họa tiết trang trí lên mặt sản phẩm.
Gốm Bát Tràng
Tạo dáng sản phẩm gốm Bát Tràng

2. Trang trí hoa văn và phủ men

Kỹ thuật vẽ

  • Thợ gốm Bát Tràng dùng bút lông để vẽ trực tiếp lên nền mộc các hoa văn, họa tiết.
  • Thợ vẽ gốm đòi hỏi có tay nghề cao. Hoa văn, họa tiết phải hài hòa với dáng gốm.
  • Các thợ gốm Bát Tràng cũng đã sử dụng nhiều hình thức trang trí khác nhau và có hiệu quả nghệ thuật như vẽ men màu, đánh chỉ, bôi men chảy màu…
  • Gần đây, làng gốm Bát Tràng có xuất hiện kỹ thuật vẽ trên nền xương gốm đã nung sơ lần 1. Hoặc kỹ thuật hấp hoa – một lối trang trí hình in sẵn trên giấy decal nhập từ nước ngoài. hai kiểu này tuy đẹp nhưng không phải là truyền thống của Bát Tràng.

Chế tạo men

  • Men tro là loại men đặc sắc của gốm Bát Tràng. Bên cạnh đó, còn có men màu nâu. Thành phần loại men này bao gồm men tro cộng thêm 5% đá thối.
  • Từ thế kỷ XV thợ Bát Tràng đã chế tạo ra loại men lam nổi tiếng. Loại men này được chế từ đá đỏ, đá thối nghiền nhỏ rồi trộn với men áo. Men lam phát màu ở nhiệt độ 1250 độ C.
  • Đầu thế kỷ XVII người Bát Tràng dùng vôi sống, tro trấu và cao lanh chùa Hội (Hải Dương) để điều chế thành men rạn.
  • Thợ Bát Tràng quen sử dụng cách chế tạo men theo phương pháp ướt. Đó là cách cho nguyên liệu đã nghiền lọc kỹ trộn đều với nhau. Sau đó, khuấy tan trong nước, đợi lắng xuống thì bỏ phần nước trong ở trên và bã đọng ở dưới đáy. Chỉ lấy phần “dị” lơ lửng ở giữa, đó chính là lớp men bóng để phủ bên ngoài đồ vật.
  • Trong quá trình chế tạo men, thợ Bát Tràng phải chế biến bột tro nhỏ hơn nhiều so với bột đất.

Tráng men

  • Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh thì người thợ sẽ nung sơ sản phẩm ở nhiệt độ thấp. Sau đó, đem tráng men hay dùng ngay sản phẩm hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi nung.
  • Thợ Bát Tràng thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên trên sản phẩm mộc hoàn chỉnh.
  • Sản phẩm mộc trước khi đem tráng men phải được làm sạch bụi bằng chổi lông.
  • Những sản phẩm mà xương gốm có màu trước khi tráng men phải có lớp men lót để che bớt màu của xương gốm.
  • Kỹ thuật tráng men có nhiều hình thức như phun men, dội men lên bề mặt cốt gốm cỡ lớn. Hay nhúng men với loại gốm nhỏ nhưng thông dụng nhất là hình thức láng men bên ngoài sản phẩm – “kìm men”. Khó hơn cả là hình thức “quay men” và “đúc men”. “Quay men” là hình thức tráng men bên trong và bên ngoài sản phẩm cùng một lúc. “Đúc men” là chỉ tráng men trong lòng sản phẩm. Đây là thủ pháp tráng men của thợ gốm Bát Tràng. Nó vừa là kỹ thuật vừa là nghệ thuật được bảo tồn qua nhiều thế hệ.

Sửa hàng men

  • Thợ gốm tiến hành tu chỉnh lại sản phẩm lần cuối trước khi đưa vào lò nung.
  • Đầu tiên, họ sẽ xem kỹ từng sản phẩm xem có chỗ nào khuyết men thì phải bôi quệt men vào các vị trí ấy.
  • Tiếp theo là tiến hành “cắt dò” tức là cạo bỏ những chỗ dưa thừa men. Công việc này gọi là “sửa hàng men”.
Gốm Bát Tràng
Trang trí hoa văn cho sản phẩm gốm Bát Tràng

3. Nung

Lò nung

  1. Lò ếch: Đây là kiểu là gốm cổ nhất ở mọi nơi. Lò ếch có đặc điểm giống hình con ếch. Chiều dài khoảng 7m, bề ngang chỗ rộng nhất khoảng 3-4m, cửa lò rộng khoảng 1,2m, cao 1m. Đáy là phẳng, nằm ngang, bên hông lò có một cửa ngách rộng. Nó phục vụ cho việc chồng lò và dỡ sản phẩm. Lò ếch có ba ống khói thẳng đứng.
  2. Lò đàn: Đây là loại lò được chia thành 10 bích bằng nhau. Vị trí phân cách giữa các bích là hai cột. Để giữ nhiệt, bích lò kéo dài và ôm lấy buồng thu khói. Lớp vách trong ghép gạch Bát Tràng. Lớp vách trong xây bằng gạch thông thường. Mặt dưới của cật lò gần như bằng phẳng, mặt trên hình vòng khum.
  3. Hộp hay lò đứng: Lò cao 5m, rộng khoảng 0,9m. Bên trong lò được xây bằng gạch chịu lửa. Lò mở hai cửa và có kết cấu đơn giản, chi phí xây lò không nhiều.
  4. Lò bầu/Lò rồng: Được chia làm nhiều ngăn. Người ta dùng gạch chịu lửa để xây dựng vòm cuốn của lò.
  5. Lò con thoi, lò Tuynen: Đây là một kiểu lò hiện đại với nhiên liệu là khí đốt hoặc dầu. Việc điều chỉnh nhiệt độ được thực hiện bán tự động hoặc tự động. Bởi vậy, công việc đốt lò cũng trở nên đơn giản hơn.

Bao nung

  • Trước đây, các lò gốm Bát Tràng dùng loại gạch vuông ghép lại thành bao nung. Loại gạch này sau 2,3 lần sử dụng trong lò đạt đến độ lửa cao và cứng gần như sành.
  • Gần đây, bao nung thường được làm bằng đất sét chịu lửa. Loại này có màu xám sẫm, được trộn đều với bột gạch hoặc bao nung hỏng nghiền nhỏ (sa mốt). Người ta dùng một lượng nước vừa đủ để trộn và đánh nhuyễn hỗn hợp này sau đó đem in (dập) thành bao nung hay đóng thành gạch ghép ruột lò.
  • Bao nung thường có hình trụ để lửa có điều kiện tiếp xúc đều với sản phẩm. Tùy theo sản phẩm nên bao nung có kích thước không giống nhau. Phổ biến hơn cả là loại có đường kính từ 15cm =>30cm, cao từ 5cm =>40cm. Một bao nung có thể dùng từ 15 đến 20 lần.
  • Nếu sản phẩm được đốt trong lò con thoi hay tuynen sẽ không cần bao nung.

Nhiên liệu

  • Đối với các loại lò ếch có thể dùng các loại men rơm, rạ, tre, nứa để đốt lò. Sau đó, dùng kết hợp rơm rạ với các loại “củi phác” và “củi bửa”. “Củi phác” và “củi bửa” dần dần trở thành nguồn nguyên liệu chính cho các lò gốm ở Bát Tràng.
  • “Củi bửa” và “củi phác” sau khi đã bổ được xếp thành đống ngoài trời. Củi được phơi nắng cho ải ra rồi mới đem sử dụng.
  • Với loại lò đàn, tại bầu người ta đốt củi phác còn củi bửa được dùng để đưa qua các lỗ giòi, lỗ đậu vào trong lò.
  • Với lò đứng, nguồn nguyên liệu chính là than cám. Củi chỉ được sử dụng để gầy lò. Than cám được đem nhào trộn kỹ với đất bùn theo tỉ lệ nhất định. Nó có thể được đóng thành khuôn hay nặn thành bánh nhỏ phơi khô. Đôi khi, người ta nặn than ướt rồi đập lên tường khô để tường hút nước nhanh và than chóng kết cứng lại. Như vậy, có thể sẽ sử dụng được ngay…

Chồng lò

  • Sản phẩm mộc sau khi gia công hoàn chỉnh sẽ được đem vào lò nung.
  • Sản phẩm được xếp trong lò nung tùy theo hình dáng, kích cỡ. Nguyên tắc là vừa sử dụng triệt để vừa tiết kiệm được nhiên liệu mà đạt hiệu nhiệt cao.
  • Cấu tạo mỗi lò khác nhau cho nên việc chồng là cũng có những đặc điểm riêng. Đối với lò ếch, người ta xếp sản phẩm từ gáy lò ra tới cửa lò. Đối với lò đàn thì người ta xếp sản phẩm từ bích thứ 2 đến bích thứ 10. Ở bầu cũi lợn, nơi dành để đốt nhiên liệu có nhiệt độ cao, cho nên, người ta xếp sản phẩm trong các bao ngoại cỡ.
  • Sản phẩm được xếp trong lò bầu giống lò đàn. Riêng đối với lò hộp thì tất cả sản phẩm được đặt trong các bao nung hình trụ. Các bao này không được đậy nắp và xếp chồng cao dần dần từ đáy lên nóc. Xung quanh tường lò và chỗ khoảng trống giữa các bao nung đều được chèn các viên than.
  • Bát Tràng xưa có phường “chồng lò”, mỗi phường có 7 người. Họ chia thành 3 nhóm trong đó mỗi nhóm gồm 1 thợ cả và 1 thợ đệm. Nhóm thứ nhất có nhiệm vụ chồng đáy. Nhóm thứ hai có nhiệm vụ chồng giữa. Nhóm thứ ba là nhóm gọi mặt – xếp ba lớp cuối cùng ở vị trí cao nhất trong lò.

Đốt lò

  • Với các loại lò ếch, lò đàn và lò bầu thì quy định đốt lò là giống nhau. Ở lò đàn, khoảng nửa ngày kể từ khi nhóm lửa người ta sẽ đốt nhỏ lửa tại bầu cũi lợn để sấy lò và sản phẩm trong lò. Sau đó, người ta tăng dần lửa ở bầu cũi lợn cho đến khi lửa đỏ lan tới bích thứ tư thì việc tiếp củi ở các bầu cũi lợn được dừng lại. Tiếp theo là ném củi bửa qua các lỗ giòi. Người xuất cả bằng kinh nghiệm kiểm tra các bích và ra lệnh ngừng ném củi vào bích nào khi sản phẩm đã chín. Khi sản phẩm sắp chín người ta sẽ ném dồn dập trong vòng nửa tiếng khoảng 9-10 bó qua lỗ đậu rồi kết thúc việc tiếp củi.
  • Sau khi nung người ta sẽ bịt hết các cửa lò, lỗ giòi, lỗ xem lửa để làm nguội từ từ. Quá trình làm nguội trong lò kéo dài 2 ngày, 2 đêm. Sau đó, cửa lò được mở và để tiếp 1 ngày, 1 đêm nữa mới ra lò.
  • Đối với lò đừng, việc đốt lò trở nên đơn giản hơn. Bởi lẽ, khi hoàn tất khâu chồng lò cũng có nghĩa là đã kết thúc việc nạp nhiên liệu. Người ta thường dùng gạch chịu lửa bịt cửa lò lại rồi nhóm lò bằng củi. Lửa cháy bén vào than và bốc từ dưới lên. Than trong lò cháy hết cũng là lúc kết thúc công việc đốt lò. Thời gian đốt lò kể từ khi nhóm lửa cho đến khi lửa tắt hoàn toàn là 3 ngày 3 đêm. Sau khi lò nguội, sản phẩm sẽ được đánh giá, phân loại và sửa chữa nếu có khuyết tật.
Gốm Bát Tràng
Nung gốm Bát Tràng

LIÊN HỆ: HIỆP HỘI GỐM SỨ

Địa chỉ: Số 166 – Giang Cao – Bát Tràng – Gia Lâm – Hà Nội

Hotline: 0977.098.023

Tổng đài tư vấn 24/7:  08888.56689

Fanpage: https://www.facebook.com/hiephoigomsu/

 

Summary
Article Name
Gốm Bát Tràng và tất cả những điều có thể bạn chưa biết
Description
Gốm Bát Tràng là thương hiệu không còn xa lạ đối với người Việt Nam. Sản phẩm gốm Bát Tràng đã trở thành món quà tặng có ý nghĩa và được ưa chuộng cả trong và ngoài nước.
Author
Publisher Name
HIỆP HỘI GỐM SỨ
Publisher Logo
Zalo: 0977.098.023
Chat Facebook
Gọi điện ngay